
Người Sán Chay còn có các tên gọi khác như Hờn Bán, Chùng, Trại... Theo kết quả điều tra dân số năm 2019, có 201.398 người Sán Chay, gồm 102.750 nam và 98.648 nữ. Người Sán Chay gồm hai nhóm địa phương: Cao Lan và Sán Chỉ, tiếng Cao Lan thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Kađai), còn tiếng Sán Chỉ thuộc nhóm ngôn ngữ Hán (ngữ hệ Hán Tạng).
Các tài liệu công bố và điền dã dân tộc học, nhất là thông qua chuyện kể dân gian, ghi chép trong gia phả, bài cúng… cho thấy, người Sán Chay xưa kia đã từng sinh tụ ở khu vực Dương Châu, Khâm Châu, Liêm Châu, Lôi Châu, Linh Sơn, Thường Tư, Ninh Minh, Bạch Vân Sơn, Thập Vạn Sơn thuộc các tỉnh Quý Châu, Quảng Đông và Quảng Tây (Trung Quốc), đến Việt Nam vào quãng cuối đời Minh, đầu đời Thanh, cách đây 300 - 500 năm.
Người Sán Chay cư trú rải rác, xen lẫn với các dân tộc ít người khác, tại một số địa phương như: Tuyên Quang (ở các huyện Sơn Dương, Yên Sơn, Hàm Yên), Thái Nguyên (Đồng Hỷ, Phú Lương, Đại Từ...), Bắc Giang (Lục Ngạn, Sơn Động, Lục Nam, Yên Thế), Quảng Ninh (Bình Liêu, Ba Chẽ, Tiên Yên, Hoành Bồ), Cao Bằng (Bảo Lâm, Bảo Lạc), Lạng Sơn (Lộc Bình, Hữu Lũng), Phú Thọ (Đoan Hùng), Vĩnh Phúc (Sông Lô).
Là cư dân nông nghiệp, làm ruộng nước thành thạo nhưng nương rẫy vẫn có vai trò to lớn trong đời sống kinh tế, và phương thức canh tác theo lối chọc lỗ, tra hạt vẫn tồn tại đến ngày nay. Hiện nay, canh tác vườn đồi đang là xu hướng phát triển phổ biến. Ở nhiều nơi, loại cây được trồng nhiều như vải, nhãn, hồng,… đã mang lại hiệu quả kinh tế đáng kể, nhất là ở tỉnh Bắc Giang. Chăn nuôi trâu, bò trước đây chủ yếu để cày kéo, ngày nay chủ yếu nuôi để bán. Bên cạnh đó, chăn nuôi gia cầm (như gà, vịt, ngan) chủ yếu để đáp ứng nhu cầu thực phẩm trong gia đình và lễ vật trong các nghi lễ truyền thống.
Nuôi ong mật là hoạt động kinh tế hoàn toàn mới đối với người Sán Chay. Đến nay, khá nhiều gia đình phát triển nghề nuôi ong thành một trong những hoạt động kinh tế chính, có thu nhập cao và ổn định.
Trong truyền thống, dòng họ có vai trò quan trọng trong sinh hoạt cộng đồng, còn nay, tổ chức xã hội của người Sán Chay cũng giống như nhiều dân tộc khác ở các vùng miền khác, vận hành theo cơ cấu tổ chức hành chính các cấp của Nhà nước. Ngày nay, ngoài vai trò của Trưởng thôn/bản và các tổ chức đoàn thể thì vai trò của những người có uy tín, trưởng các dòng họ vẫn được coi trọng.
Nhóm Cao Lan và Sán Chỉ có nhiều nét tương đồng về dòng họ, đều có các dòng họ Dương, Đặng, Đàm, Hoàng, Trương, La, Lục, Lâm, Mễ, Mông… Mỗi dòng họ thường có nhiều chi; dòng họ càng lớn thì các chi càng nhiều. Tuy nhiên, cũng có những dòng họ chỉ có ở nhóm Sán Chỉ như Đằng, Đồng, Lương, Vi… hoặc chỉ có ở nhóm Cao Lan như Âu, Ban, Bàng, Lãnh, Lưu, Tiêu, Tô, Tơ, Tống, Trạc…
Hôn nhân người Sán Chay cũng có những điểm đặc biệt. Trước khi đi đón dâu, lễ vật và trang phục của những người đi đón được tập trung lại ở giữa nhà để quan lang làm phép. Khi xuất phát, quan lang đứng dưới giọt gianh hiên nhà giương ô lên cho mọi người đi qua. Trên đường về nhà chồng, cô dâu phải đi chân đất. Sau khi cưới, cô dâu vẫn ở nhà bố mẹ đẻ cho đến lúc sắp đẻ mới về ở nhà chồng. Ông mối được cô dâu, chú rể quý trọng, coi như bố mẹ và khi ông mối chết, họ phải để tang. Đến nay, người Sán Chay vẫn duy trì các tập tục của mình nhưng đã giản lược quy trình cũng như thời gian tổ chức.
Khi trong nhà có người sinh nở, trong vòng 42 ngày sau khi đẻ, người Sán Chay cấm người lạ vào nhà. Nếu ai đó lỡ vào mà sau đó trẻ sơ sinh bị ốm thì người đó phải đem lễ vật đến nhà đứa bé để làm lễ cúng vía.
Ðám ma của người Sán Chay thường do thầy tào chủ trì gồm nhiều nghi lễ chịu ảnh hưởng sâu sắc của Ðạo giáo và Phật giáo. Ðặc biệt, ngôi nhà táng được làm rất công phu và đẹp.

Nhà sàn của người Sán Chỉ
(dân tộc Sán Chay, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, năm 1996)
Nhà ở truyền thống của người Sán Chay thường là nhà sàn và nhà nửa sàn nửa đất (loại nhà này hiện nay không còn tồn tại nữa). Mặt bằng sinh hoạt trong ngôi nhà sàn được chia thành nhiều khu vực khác nhau. Nửa nhà phía trước, từ trái sang phải, đầu tiên là buồng con gái có cầu thang đi xuống gầm sàn, phần giữa đặt bếp đun và nơi người già ngủ vào mùa rét, cuối cùng bên phải là buồng con dâu. Nửa nhà phía sau, bên trái nơi cao hơn mặt sàn chung khoảng 30cm đặt bàn thờ tổ tiên, tiếp đến là nơi ngủ của người già khi mùa nóng và nơi tiếp khách nam; ở bên phải, nơi thấp hơn là chỗ tiếp khách, ăn uống và ngủ đêm của các thành viên nam nhỏ tuổi trong nhà. Dưới gầm sàn là nơi đặt cối giã gạo và trước đây là nơi nhốt gia súc, gia cầm. Hiện nay, một số ít người Sán Chay vẫn ở nhà sàn trong khi phần lớn đã chuyển sang ở nhà xây, đổ mái bằng hoặc lợp ngói giống nhà người Kinh ở miền xuôi.
Trong truyền thống, phụ nữ mặc váy chàm và áo dài có trang trí hoa văn ở ngực áo và lưng áo; thường ngày, họ chỉ dùng một thắt lưng chàm nhưng trong ngày tết, lễ, họ dùng 2-3 chiếc thắt lưng bằng lụa hoặc nhiễu với nhiều màu khác nhau. Trang phục nam mộc mạc, đơn giản hơn nhưng vẫn toát lên nét khoẻ khoắn, mạnh mẽ. Áo màu chàm là chủ đạo, có hai túi rộng, quần dài, cạp chun, ống quần rộng để thuận lợi cho công việc, lao động, sản xuất và sinh hoạt hằng ngày. Hiện nay, trang phục thường ngày của người Sán Chay đã có nhiều thay đổi, cả nam và nữ mặc như người Kinh và rất khó để phân biệt người Sán Chay và người Kinh.
Nguồn thức ăn của đồng bào Sán Chay chủ yếu là gạo nếp và gạo tẻ; bên cạnh đó là ngô, khoai, sắn. Những nguồn lương thực này được chế biến bằng nhiều cách, như: nấu, nướng, đồ, xay bột làm bánh và làm bún, nấu rượu… Hằng ngày, họ ăn hai bữa chính là trưa và tối; bữa phụ lúc sáng dậy trước khi đi làm, nhưng không thành bữa mà thường có gì ăn nấy. Mấy chục năm trước trong các bữa cơm có thêm nồi cháo, sau khi ăn cơm, mỗi người có thể phụ thêm 1-2 bát cháo loãng. Ngày nay, các món ăn được chế biến đa dạng hơn. Ngoài cơm ăn hàng ngày, đồng bào còn dùng các món ăn như luộc hoặc nướng ngô, khoai, sắn hoặc các loại bánh, bỏng, bún được chế biến từ gạo tẻ, gạo nếp, và xôi, nhất là vào các dịp tết, cưới xin, ma chay.
Nghệ thuật dân gian của người Sán Chay nổi bật là làn điệu dân ca trữ tình - sình ca, là lối hát giao duyên nam nữ vào các buổi tối hoặc trên đường đi hoặc ở chợ. Bên cạnh đó, còn có ca đám cưới, hát ru... Các điệu múa của người Sán Chay cũng rất phong phú như múa trống, múa xúc tép, múa chim, múa đâm cá, múa thắp đèn… Để phụ họa, họ còn dùng các loại nhạc cụ như thanh la, não bạt, trống, chuông, kèn…, độc đáo nhất là trống tang bằng sành và khèn ống nứa.
Trong nhà người Sán Chay có rất nhiều bàn thờ, ngoài thờ cúng tổ tiên, họ còn thờ trời đất, thổ công, bà mụ, thần nông, thần chăn nuôi..., phổ biến nhất là thờ Ngọc Hoàng, Phật Nam Hoa, Táo Quân. Bàn thờ của người Sán Chay khá đơn sơ, nhiều khi chỉ là một ống tre để cắm hương. Hằng năm, đến trước Tết Nguyên đán, các bàn thờ được quét dọn và dán một mảnh giấy đỏ.
Tại trưng bày thường xuyên của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, hiện vật của người Sán Chay được giới thiệu trong không gian các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái ở tầng 2 của tòa nhà Trống đồng. Tất cả bài viết và thông tin đều được thể hiện bằng ba ngôn ngữ (Việt, Pháp, Anh).
Người viết: Võ Thị Mai Phương
Ảnh: BTDTHVN